[Kinh tế] -"Ngôi nhà" trên biển

Dự án Đầu tư đánh bắt thủy sản xa bờ do Chính phủ triển khai năm 1997, với hơn 1.300 tàu cá được đóng mới và cải hoán, là động lực mạnh cho nghề khai thác thủy sản xa bờ, để hôm nay cả nước có đội tàu đánh bắt xa bờ (ĐBXB) tới 28 nghìn chiếc. Điều đáng tiếc nhất là sau khi thực hiện dự án, ngư dân dường như phải "tự bơi" trên biển.


Thiết kế tàu gỗ hiện nay không có chỗ cho ngư dân sinh hoạt, nghỉ ngơi.

Dự án Đầu tư đánh bắt thủy sản xa bờ do Chính phủ triển khai năm 1997, với hơn 1.300 tàu cá được đóng mới và cải hoán, là động lực mạnh cho nghề khai thác thủy sản xa bờ, để hôm nay cả nước có đội tàu đánh bắt xa bờ (ĐBXB) tới 28 nghìn chiếc. Điều đáng tiếc nhất là sau khi thực hiện dự án, ngư dân dường như phải "tự bơi" trên biển.

Về ngôi nhà "không đẹp"

Thẳng thắn mà nói, con tàu gỗ ĐBXB của ngư dân ta không đẹp, mũi tàu hơi cứng, thiếu độ cong để vươn lên thanh thoát. Phần đuôi vót lên như cái đuôi vịt, bè ra. So với thiết kế những con tàu loại khác, nước khác, trông nó... sao sao ấy. Khi đậu không thấy đẹp, khi chạy cũng vậy. Tuy nhiên để có phần đuôi "không đẹp" ấy, bao mạng sống ngư dân đã phải nằm lại trên biển! Theo nghệ nhân Nguyễn Tấn Viện 87 tuổi, ở làng nghề đóng tàu Cổ Lũy, xã Nghĩa Phú, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, trước đây đuôi tàu cũng hạ thấp, rồi từ kinh nghiệm dân gian và sau những trận bão với bao mất mát khủng khiếp trên biển, những người làm nghề đóng tàu, trong đó có ông, đã phải sửa để "vát dần lên cao" khi chân vịt vẫn ngập sâu trong nước. Như thế, tàu vẫn đầm nhưng sóng từ phía sau bị "nhủi" xuống, không tấp lên đánh tập hậu được.

Trò chuyện với cụ, khiến tôi nhớ chuyến theo tàu câu cá ngừ tháng 6-2011. Chuyến đi ấy con tàu chúng tôi không ít lần gặp sóng cấp 6, cao hơn nóc tàu. Mỗi lần từ đỉnh sóng, nghiêng mình lao xuống, mũi tàu chạm mặt nước, tưởng như sắp nghe tiếng "ục" rồi con tàu mất tăm vào lòng biển thì giật một cái nó ngóc lên trườn tiếp. Cái vát đuôi vịt "không đẹp" giúp tàu thoát cú "thúc đuôi" của con sóng sau đổ xuống.

Tàu ĐBXB chia làm ba phần chính: Hầm chứa đá, cá, thực phẩm, trên nóc hầm là boong tàu cũng là nơi tác nghiệp; hầm máy, hai phần trên bao giờ cũng phải ưu tiên. Phần thứ ba, trên nóc hầm máy, một khoang nhỏ chừng 10 - 15 mét vuông, là nơi ở của anh em ngư dân. Tất thảy cuộc sống của đội tàu trên dưới 10 người cùng bếp, chỗ lái đều trong ấy. Không có diện tích nào có tên là giường ngủ, vậy nên mọi nơi đều là chỗ ngủ. Bữa ăn xếp nhau ngồi nghiêng mới đủ chỗ, "ngồi đủ thì nằm cũng đủ", nghiêng nhau nằm, tráo đầu đuôi mà nằm, lách lưng chen, vài nhịp lắc, dồn lại là đủ chỗ. Với tàu lưới vây, đội tàu đến hơn 20 người, căn phòng cao chừng hai mét phải làm thành hai tầng, cùng hai tầng võng mới đủ chỗ đặt lưng.

Khoang ở không thể rộng ra vì hẹp đường tác nghiệp, không thể cao lên vì cản gió, nguy hiểm vô cùng, nhất là với vùng biển miền trung. Phần "kiến trúc thượng tầng" vì sự sinh tồn mà phải chịu thấp, nhỏ, cũng góp phần vào cái... không thể đẹp được của con tàu.

Về con tàu gỗ của ngư dân, một chuyên gia đóng tàu đã nhận định: Nhờ vật liệu gỗ có ma sát lớn với nước, lại thừa kế có chọn lọc kiểu dáng của chiếc tàu câu truyền thống, nên có mô men hồi phục (cân bằng động) rất cao. Nó như con lật đật luôn có xu thế trở lại cân bằng. Một ưu thế nữa là vật liệu gỗ có tính thân thuộc cao, những hư hỏng thông thường trên vỏ tàu ngư dân đều tự sửa được trên biển.

Nhiều lần tôi ra biển với ngư dân trên những con tàu gỗ "tối ưu" về công năng vượt sóng và đánh bắt nhưng "tối giản" cho cuộc sống con người, nghĩ về con tàu vừa yêu thương vừa thật buồn. Không khỏi thắc mắc: Sao nó lại thiếu bàn tay của nhà kỹ nghệ, để xử lý kết cấu và không gian, kiểu dáng cho ngư dân sống thoải mái hơn trên biển và cũng rất cần đẹp hơn nữa.

Chủ tàu và bạn

Trên những con tàu cá, đến tận ngày nay, chủ tàu có, nhưng không có người làm thuê, người lao động trên tàu là bạn. Trên tàu, việc phân theo người, kỷ luật rất nghiêm, tuyệt đối tuân lệnh thuyền trưởng (thường là chủ tàu hoặc người nhà chủ tàu) nhưng ăn không chia mâm, ngồi không phân thứ bậc. Mọi chi phí, thu nhập đều được ghi chép độc lập để ăn chia sòng phẳng. Bởi thế nếu hòa (không có tiền chia) hay lỗ (phải ghi nợ chuyến sau) mọi thành viên đều hiểu và chấp nhận. Được cùng ăn, thua cùng chịu, rủi gặp hiểm nguy cùng kết thành dây trên biển, chung sống chết, tuyệt đối không bỏ nhau. Quan hệ với nhau như thế nên người đi biển thường chân thật, ít có tính khôn ranh. Nhiều ngư dân quá chán cái nhọc nhằn trên biển, lên bờ tìm việc làm, một thời gian lại quay về với ngôi nhà trên biển "cho khỏe".

Chủ tàu có cái khổ riêng, nhất là khi thua lỗ. Tiền lỗ ghi nợ, nếu chồng lên quá nhiều thì bạn... chạy. Ôm cục nợ có khi đến vài trăm triệu đồng, mất luôn cả bạn. Tuyển bạn mới, lại phải vay lấy tiền ứng trước chuyến đi, vài vòng như thế mất con tàu. Chuyện bạn bỏ, để cục nợ lại, không chủ tàu nào kéo áo đòi, bởi cái tình, cũng là luật bất thành văn của nghề biển. Khi tàu đã lỗ vài ba chuyến, mấy tháng trời bạn cũng không có tiền đưa về, vợ ở nhà bốc bạc nóng nuôi con, lãi suất mỗi tháng đến 15-20%. Phải chia tay nhau, bạn nợ đằng bạn, chủ nợ đằng chủ, cùng khổ, nhưng chủ còn cái tàu để bán, dân biển không làm khó người khổ hơn mình. Năm nay người đi bạn ít, đi dọc miền trung đâu cũng thấy chủ tàu kêu thiếu bạn. Tiền chia ít quá, ở Phú Yên các tàu câu cá ngừ đại dương chỉ chia được trên dưới 20 triệu đồng cho mỗi bạn sau cả năm bám biển. Chịu không thấu, người ta đành bỏ tàu lên bờ làm thuê, cả xuất ngoạilàm thuê... cũng trên tàu cá.

Chắc chắn trong tương lai không xa, quan hệ chủ tàu và bạn sẽ có những thay đổi. Anh Lê Văn Sang, Chủ nhiệm Tổ hợp tác dịch vụ hậu cần nghề cá vùng khơi số 1, TP Đà Nẵng cho rằng: "Phải giữ chất bạn truyền thống, nhưng để ổn định được hoạt động của đội tàu, trước hết cần ổn định nhân sự". Để làm việc này, anh Sang cho biết sẽ lập quỹ dự phòng, bỏ quy định bạn chịu chung tiền lỗ. Xây dựng mức lương tối thiểu trả cho bạn trong những chuyến biển hòa và lỗ, những tháng biển động không thể ra khơi, và "rất nên có tiền thưởng Tết nữa". Người thanh niên chưa đến tuổi 30 này còn ước mơ đóng bảo hiểm cho bạn "như người trên bờ" để họ có lương hưu.

Mất cá trong khoang

Tìm được luồng cá, bủa câu, đánh lưới, đưa được lên boong, cho vào khoang biết bao nhọc nhằn, cơ cực và mừng vui nữa. Lênh đênh trên biển cả tháng về bờ, 10 phần mất 3 còn 7, cũng có thể tệ hơn mất 7 còn 3. Cá vẫn trong khoang mà mất, vì giá xuống khi nhiều tàu cùng về, nhưng đau nhất và mất nhiều nhất là xuống cấp. Lúc chờ cân, phân loại, tính tiền, anh ngư dân nào mặt cũng ngẩn thộn ra: "mất nhiều quá, bán xô thiệt, phân loại ra vẫn thiệt, kiểu chi mình cũng thiệt", không ít ngư dân ngán ngẩm nói như thế với chúng tôi. Chuyện ép giá, ép cấp chúng ta ca thán nhiều coi như một "thói xấu" của tư thương, nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy. Thử ra cảng cá, xem cá của những tàu ĐBXB đưa về, cái sự "cá tươi" gần như không còn thấy được, thậm chí nhiều lô đã nhũn ra.

Gần 20 năm, một thế hệ đã qua nhưng cách sơ chế, bảo quản trên tàu ĐBXB vẫn vậy. Đại thể lựa cá cùng loại, cùng cỡ vào khay, phủ đá lên, xếp vào khoang lạnh. Thời gian làm lạnh, nhiệt độ cần hạ xuống đến bao nhiêu với từng loại cá, kích cỡ cá, giữ được bao nhiêu ngày hầu như không anh ngư dân nào biết. Không may, cá ít, chuyến biển kéo dài, không chỉ hao dầu, về đến bờ cấp cá giảm "mất như mất cắp". Chuyện đầu tư thiết bị bảo quản hiện đại cho từng tàu rất khó khả thi vì nhiều vấn đề: Vốn, kỹ thuật, trình độ ngư dân... Cả chuyện ăn chia nữa, đầu tư càng nhiều, rủi ro về phía chủ tàu càng lớn. Rất khó.

Phương án tàu dịch vụ, nói đến nhiều nhưng chỉ thực hiện được ở những ngư trường gần bờ. Tàu dịch vụ cũng chủ yếu theo xu thế "gom cá chạy về nhanh hơn" chứ chưa đầu tư sâu vào sơ chế và bảo quản. Những mất mát khi con cá đã vào khoang ai cũng thấy nhưng giải quyết được nó không hề dễ. Tuy nhiên, nếu không có những thay đổi mang tính đột phá trong khâu này thì nguy cơ phá sản hàng loạt của những đội tàu ĐBXB là hiện hữu, bởi lượng thủy sản khai thác đã đến ngưỡng, cá ngày càng ít đi, rất khó tăng năng suất đánh bắt.

Rất khó đầu tư cho tất cả các tàu ĐBXB, bởi chi phí đầu tư quá lớn, hiệu suất làm việc thấp, không khả thi để thu hồi vốn. Nhưng nếu đầu tư trọng điểm cho những "tàu mẹ" theo từng tổ nhóm ĐBXB thì chắc chắn việc thu hồi vốn là khả thi. Nguồn vốn, kỹ thuật, công nghệ thực hiện ước mơ này, ngư dân chỉ biết trông vào gói tín dụng ưu đãi của Nhà nước cùng sự chung tay thực sự của "các nhà".

Sau mỗi mùa biển thành - bại, đặc biệt sau những mất mát khủng khiếp mang tên Linda, Chanchu... những con tàu gỗ - ngôi nhà của những ngư dân vươn khơi - lại thay đổi. Nó thay đổi không chỉ bằng mồ hôi mà cả máu của bao ngư dân cùng nước mắt của trẻ thơ, góa phụ xóm chài.

-------

(Ảnh chuyên đề: XUÂN TRƯỜNG)

XUÂN TRƯỜNG